Thứ Năm, 21 tháng 7, 2016

Mức trợ cấp cho thời gian không được đóng bảo hiểm thất nghiệp| Luật BRAVOLAW


Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:

“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

Điểm b, điểm c khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết cách tính thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc như sau:

“…b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;
c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc…”.

Bạn viết đơn xin nghỉ việc và được công ty đồng ý nên hợp đồng lao động của bạn đã chấm dứt theo trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36 nêu trên. Bạn đã làm việc cho công ty nhiều hơn 12 tháng, vì vậy, bạn thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2012, Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP.

Theo thông tin bạn cung cấp, tính đến khi nghỉ việc bạn đã làm việc cho công ty được 06 năm 06 tháng, thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp của bạn là 02 năm 11 tháng. Chúng tôi hiểu rằng công ty bạn chưa từng chi trả trợ cấp thôi việc cho bạn và trong thời gian không đóng bảo hiểm thất nghiệp cho bạn, công ty bạn cũng đã không chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của bạn một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật.

Do đó, thời gian để tính trợ cấp thôi việc của bạn (cũng chính là thời gian bạn làm việc cho công ty nhưng không được tham gia bảo hiểm thất nghiệp) là 03 năm 07 tháng và được tính tròn là 04 năm theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP. Mỗi năm làm việc bạn được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, nghĩa là bạn sẽ được trợ cấp 02 tháng tiền lương, trong đó, tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi bạn thôi việc (Từ tháng 02/2016 đến tháng 7/2016).

Tóm lại, theo thông tin bạn cung cấp, công ty bạn sẽ không chi trả trợ cấp thất nghiệp mà sẽ chi trả trợ cấp thôi việc cho bạn. Mức trợ cấp thôi việc bạn được nhận là 02 tháng tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của bạn từ tháng 02/2016 đến tháng 7/2016.

Hy vọng rằng sự tư vấn sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu còn bất cứ thắc mắc gì xin gửi về báo Đời sống & Pháp luật.

HUY LÂM

Nguồn: Người đưa tin

Đọc báo Pháp luật Đời Sống trong ngày cập nhật liên tục từng giờ tại chuyên mục Pháp Luật

#gian #khng #nghip

http://ift.tt/29osiNO

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.